Công Dụng Lợi & Hại
của ĐẬU NÀNH
Nguyễn Công Trứ Sưu Tầm
ĐẬU NÀNH VÀ SỨC KHỎE PHỤ
NỮ
BS. BÙI
THANH VÂN
Ai cũng biết rằng, từ những hạt
đậu nành, người ta có thể chế biến
thành nhiều món ăn rất ngon: Những miếng
đậu hũ dùng để chiên, nấu; những chén
tàu hũ nấu với gừng và đường thơm
ngon, những ly sữa đậu nành mát lạnh...
Ai cũng biết đến giá trị dinh dưỡng
của đậu nành, nhưng không phải trong chúng ta, ai
cũng hiểu hết giá trị pḥng chống bệnh
tật của nó. Mặc dù nhiều khía
cạnh có ích cho sức khỏe của đậu nành
hiện tại chưa được nghiên cứu,
nhưng các nhà khoa học đang tập trung nghiên cứu
lợi ích của đậu nành lên các bệnh măn tính ở
phụ nữ. Những nghiên cứu này chủ yếu
tập trung vào việc t́m những chất trong đậu
nành có ảnh hưởng tốt lên các bệnh lư tim
mạch, một số loại ung thư,
loăng xương, các triệu chứng của phụ nữ
trong thời kỳ măn kinh.
BỆNH TIM MẠCH
Bệnh tim mạch vẫn là nguyên nhân gây tử vong hàng
đầu ở Hoa Kỳ, chiếm 40% số tử vong
ở phụ nữ mọi lứa tuổi; và trên 45% tử
vong ở phụ nữ trên 65 tuổi.
Người ta cũng nhận thấy thói quen sống
của người Tây phương khác với người
Đông phương, ví dụ như: Đậu nành là
thức ăn quen thuộc của
người Nhật Bản, nhưng lại ít
được dùng ở người Tây phương. Các
nhà nghiên cứu đă bắt đầu nghiên cứu về
những tác động của các chất trong đậu
nành có thể làm giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh tim mạch.
Đậu nành
và cholesterol
Một trong những lănh vực được nghiên
cứu nhiều nhất là ảnh hưởng của
đậu nành lên mức cholesterol trong máu.
Tại sao
phải lo lắng về cholesterol trong máu?
Cholesterol có nhiều loại (cholesterol tốt, cholesterol
xấu...) Trong đó cholesterol xấu nếu tăng cao
sẽ có nguy cơ gây bệnh tim
mạch, nó làm tăng quá tŕnh xơ vữa động
mạch. Cholesterol xấu gây nguy hại cho
cơ thể thông qua quá tŕnh hóa học gọi là oxy hóa.
Đây cũng là lư do có nhiều nghiên cứu quan tâm
đến các chất chống oxy hóa để ngăn
ngừa hoặc làm giảm quá tŕnh oxy hóa đó. Ngoài ra, có
loại cholesterol tốt, làm ngăn ngừa quá tŕnh xơ
vữa mạch máu, làm giảm nguy cơ bệnh tim mạch.
Hầu hết những nghiên cứu về
đậu nành đều tập trung vào tác dụng
giảm mức cholesterol trong máu, hoặc vai tṛ như
một chất chống oxy hóa của nó. Những kết quả nghiên cứu này đă báo
cho thấy nếu dùng protein đậu nành thay thế cho
protein động vật th́ sẽ làm giảm
được cholesterol xấu trong máu.
Cholesterol và isoflavones...
Hoặc những ǵ khác trong đậu nành
Nhiều quan tâm nghiên cứu hiện nay tập trung vào
những hợp chất tự nhiên Isoflavone trong đậu
nành (gồm genistein, daidzein, và glucitein). Họ
thấy rằng nếu dùng đậu nành c̣n nguyên Isoflavone
tự nhiên th́ khả năng làm giảm cholesterol xấu
trong máu cao hơn là dùng đậu nành đă bị lấy
đi chất Isoflavone. Tuy nhiên một nghiên cứu
mới đây (Nestel 1997) đă cho các phụ nữ măn kinh
dùng viên thuốc Isoflavone nguyên chất th́ lại không làm
hạ được cholesterol trong máu. Điều
này đặt ra vấn đề là có thể có một
chất nào đó đi kèm với Isoflavone trong đậu
nành nên mới làm cho Isoflavone trong đậu nành có tác
dụng như vậy.
Đậu nành
có tác dụng như một chất chống oxy hóa không?
Genistein, một Isoflavone có nhiều nhất
trong đậu nành đă cho thấy có tác động
như một chất chống oxy hóa, giúp ức chế
một số bước trong quá tŕnh khởi phát và tạo
thành mảng xơ vữa động mạch. Sự phát triển mảng xơ vữa phụ
thuộc vào sự phát triển nhanh của các tế bào
cơ trơn thành động mạch, Isoflavone, đặc
biệt là genistein có tác động ức chế quá tŕnh
này, đây là quá tŕnh cơ bản trong sự xơ hóa
vữa mạch máu.
Isoflavones và đáp ứng
của động mạch
Động mạch b́nh thường sẽ giăn nở
dưới tác động của Acetylcholin. Tuy
nhiên những động mạch bị xơ vữa th́
sẽ bị tác động ngược lại (co lại)
dưới tác động của Acetylcholin. Những
nhà nghiên cứu đă cho khỉ cái bị xơ vữa
động mạch, được nuôi dưỡng
bằng chế độ protein đậu nành có Isoflavone,
sau đó họ thấy rằng động mạch bị
xơ vữa của khỉ cái nay lại giăn nở ra
dưới tác động của Acetylcholin. Như vậy
sự hoạt động của động mạch
bị xơ vữa lại đi theo
chiều hướng của sinh lư b́nh thường. Tuy
nhiên sự thay đổi tốt này chỉ thấy rơ
ở khỉ cái, mà không thấy rơ ràng ở khỉ
đực. Có lẽ v́ vậy mà các nhà nghiên
cứu chỉ đưa ra tiêu đề "Đậu
nành và sức khỏe phụ nữ".
Để kết luận, dù c̣n nhiều điều
chưa biết rơ về đậu nành, nhưng các nhà nghiên
cứu khuyên nếu không dị ứng với đậu
nành, th́ nên dùng mỗi ngày tối thiểu 25g protein
đậu nành (chứa Isoflavone tự nhiên) là một trong
những cách hạ thấp nguy cơ bệnh tim mạch.
ĐẬU NÀNH CÓ TÁC DỤNG CHỐNG UNG
THƯ KHÔNG?
Nhiều cuộc nghiên cứu trong pḥng thí nghiệm và trên
động vật cho thấy Genistein trong đậu nành có
thể có tác dụng như một chất chống oxy hóa,
làm giảm nguy cơ ung thư bằng cách giảm sự
tổn thương tế bào và chất ức chế
Protease Bowman-Birk trong Protein đậu nành cũng có thể
ức chế sự khởi phát ung thư. Chất Daidzein
trong Protein đậu nành, nếu được sử
dụng với liều cao sẽ có tác dụng kích thích
hệ thống miễn dịch, để phá hủy
những chất có hại cho cơ thể, do đó có tác
động lên việc giảm nguy cơ bị ung
thư.
Tác động lên việc
đáp ứng với Stress
Mỗi tế bào trong cơ thể chúng ta đều có
một tuổi thọ nhất định. Khi
cơ thể bị Stress, những tế bào liên quan có
khả năng tạo ra những chất đặc
hiệu, có tác dụng bảo vệ chúng thoát khỏi
sự kiểm soát của sự lăo hóa, và sự chết
đi của tế bào. Chất Genistein
trong đậu nành đă giúp tạo ra các đáp ứng
với Stress kiểu này trong tế bào.
Tác động chống phát
triển mạch máu
Các bướu cần có sự cung cấp máu tốt
để phát triển và có thể di căn khắp cơ
thể. Nếu thiếu sự tân sinh mạch
máu th́ các bướu sẽ teo lại. Chất
Genistein trong đậu nành có thể ức chế cả
sự tân sinh mạch máu và những tế bào nội mô
mạch máu.
Để kết luận, ung thư là
một bệnh lư phức tạp, gồm nhiều giai
đoạn xảy ra trước khi một khối
bướu có thể phát triển và lan rộng. Ngày càng có
nhiều nghiên cứu t́m xem bằng cách nào mà đậu nành
và những Isoflavones, hoặc những thành phần nào khác
của đậu nành có thể can thiệp vào các giai
đoạn này, làm ngăn ngừa và giới hạn sự
phát triển của ung thư. Qua nghiên cứu, người
ta thấy Genistein có thể có tác động lên cả
tế bào ung thư vú phụ thuộc
nội tiết cũng như các tế bào ung thư không
phụ thuộc nội tiết.
TÁC ĐỘNG LÊN HỆ XƯƠNG
T́nh trạng loăng xương ở phụ nữ gấp 4
lần đàn ông, do liên quan đến nồng độ
Estrogen trong máu giảm xuống sau khi hết kinh nguyệt,
do kiêng ăn uống để giữ dáng cho đẹp,
nên dễ đưa đến găy xương và tàn phế.
Một trong những phương pháp được
chấp nhận để giảm nguy cơ loăng
xương ở phụ nữ măn kinh là dùng Estrogen thay
thế, nhưng phương pháp dùng nội tiết thay
thế này đ̣i hỏi phải được khám xét
sức khỏe kỹ lưỡng, bởi v́ không phải
ai, không phải với t́nh trạng sức khỏe nào
cũng sử dụng nội tiết được. Do
đó sự quan tâm lớn là t́m ra một phương pháp
khác để duy tŕ sức khỏe của xương cho
đại đa số phụ nữ măn kinh.
Xương muốn chắc khỏe phải nhờ Calcium,
nhưng điều quan trọng không phải là
lượng Calcium đưa vào cơ thể, mà là cơ
thể có giữ được Calcium lại đủ
để làm cho xương chắc khỏe không? Qua nghiên
cứu, người ta thấy rằng những phụ
nữ dùng nhiều đạm động vật sẽ gây
mất Calcium qua nước tiểu, do đó sẽ có nguy
cơ găy xương nhiều hơn là những phụ
nữ dùng Protein thực vật. Nghiên cứu
cho thấy rằng dùng Protein đậu nành, đặc
biệt là Isoflavones có thể có tác động tốt lên
đậm độ khoáng trong xương ở những
phụ nữ măn kinh mà không dùng Ostrogen thay thế. Khi
tuổi thọ phụ nữ ngày càng cao th́ 1/3 thời gian
sống là nằm trong tuổi măn kinh, nên vấn đề
bảo vệ đậm độ khoáng cho xương là
rất quan trọng, tránh được t́nh trạng loăng
xương, đưa đến giảm tỷ lệ găy
xương.
ĐẬU NÀNH VÀ NHỮNG
TRIỆU CHỨNG MĂN KINH
Trong thời kỳ măn kinh, phụ nữ thường hay
than phiền về những triệu chứng khó chịu
như: đau nhức, cứng khớp, mệt mỏi,
trầm cảm, rối loạn giấc ngủ, nóng
bừng mặt, đổ mồ hôi ban đêm, lạnh,
bứt rứt khó chịu, rối loạn tiêu hóa...
Qua so sánh triệu chứng thời kỳ măn kinh ở
phụ nữ 3 nước Nhật, Mỹ và Canada,
người ta thấy rằng phụ nữ Nhật có
tỉ lệ các triệu chứng khó chịu thấp
nhất. Phải chăng do ở Nhật, đậu nành là
thức ăn được dùng phổ
biến?
Nghiên cứu cho thấy rằng dùng Protein
đậu nành có Isoflavones 2 lần/ngày sẽ cải
thiện các triệu chứng của thời kỳ măn kinh.
Dùng đậu nành có Isoflavones hoặc Casein
sẽ làm giảm tỉ lệ triệu chứng đỏ
bừng mặt ở phụ nữ măn kinh.
Tóm lại: Hiệu quả của đậu nành trên các
triệu chứng của thời kỳ măn kinh bước
đầu cho thấy kết quả tốt. Tuổi
thọ phụ nữ ngày càng tăng (65 tuổi vào năm 1940,
tăng lên 79,1 tuổi vào năm 1996) th́
làm sao để sống khỏe mạnh, giảm bớt
được nguy cơ bệnh tim mạch, ung thư và
các triệu chứng thời kỳ măn kinh là vấn
đề quan trọng. Việc sử dụng đậu
nành trong khẩu phần ăn của
phụ nữ Á Đông từ hàng ngàn năm nay rơ ràng đă
không thấy có một tác hại nào, nếu chưa muốn
nói là cơ hội có lợi: V́ vậy khuyến khích dùng
đậu nành trong khẩu phần ăn hàng ngày là hoàn toàn
nên làm.
BS. Bùi Thanh Vân
************************************
Phụ nữ
có thai không nên ăn đậu nành
Thu Thủy (theo EurekAlert)
Đó là khuyến cáo mà các nhà khoa học Mỹ vừa
đưa ra, sau khi nhận thấy rằng, chế
độ ăn giàu đậu nành ở chuột mang thai có
thể dẫn tới những thay đổi lâu dài trong
sự phát triển giới tính của thế hệ sau.
Cụ thể là chuột đực con sẽ có tuyến
tiền liệt to hơn và tinh hoàn nhỏ hơn.
Trong thử nghiệm của ḿnh, các nhà khoa học tại
Trường Y công cộng Johns Hopkins Bloomberg (bang
Theo các nhà nghiên cứu, những hậu quả trầm
trọng này không hề được ghi nhận ở
phụ nữ ăn chay và phụ nữ
châu Á (nơi đậu nành đóng vai tṛ quan trọng trong
khẩu phần ăn). Tuy nhiên, cũng có một nghiên
cứu cho rằng, các bà bầu ăn
chay thường hay sinh con bị dị tật lỗ
tiểu. Nhóm tác giả khuyến cáo, mặc dù c̣n cần
thêm nhiều nghiên cứu mới, nhưng trước
mắt các thai phụ vẫn không nên dùng
đậu nành.
Các hóa chất kiểu oestrogen tổng hợp có trong mỹ
phẩm, đồ nhựa và thuốc viên tránh thai đă bị kết tội làm thay
đổi giới tính của cá sống ở những khúc
sông bị ô nhiễm và làm giảm số lượng tinh
trùng ở nam giới. Người ta cũng
lo ngại rằng, hoóc môn tương tự ở thực
vật là phytoestrogen có thể gây hại cho con người.
Genistein có trong đậu nành chính là một
loại phytoestrogen. Hàm lượng
lớn chất này được t́m thấy ở một
số sữa bột dành cho trẻ nhỏ làm từ
đậu nành và các thuốc dùng trong liệu pháp hoóc môn thay
thế. Tuần vừa rồi, một
ban cố vấn khoa học của Anh đă cảnh báo
về nguy cơ đối với sức khỏe của
sữa công thức (sữa bột) từ đậu nành.
******************************
Đậu nành và sức
khỏe: đâu là thực và đâu là giả
Nguyễn Văn
Tuấn
Ở các nước Tây phương trong thời gian vài
mươi năm trở lại đây, trong chiều
hướng t́m kiếm một chiến lược
giảm thiểu những bệnh như ung thư, tim
mạch, tiểu đường, v.v… giới chức y
tế thường kêu gọi công chúng nên giảm
lượng tiêu thụ chất đạm động
vật, và thay vào đó là dùng những thực phẩm
được chế biến từ nguồn thực
vật như rau củ hay cây trái. Một thiểu số
đă thay thế hẳn chất đạm động
vật bằng chất đạm thực vật trong
bữa ăn, và họ thường được gọi
là “những người ăn chay” (tuy
nhiên cách ăn chay của họ không hoàn toàn đồng
nghĩa với ăn chay của các tu sĩ Phật giáo).
Một trong những thực phẩm đóng vai tṛ quan
trọng trong bữa ăn chay là
đậu nành hay các thức ăn được chế
biến từ đậu nành. Đối với những
người này, họ đến với rau cải và trái
cây v́ họ tin rằng đây là một nguồn thực
phẩm an toàn và bổ dưỡng
nhất.
Nhưng ngược lại cũng có người, trong
đó có một số làm việc trong ngành y tế, chất
vấn khuynh hướng này, v́ theo
họ chưa có bằng chứng ǵ cho thấy đậu nành
có tác dụng tích cực đến sức khỏe con
người. Nhiều khi cuộc tranh luận xảy ra trên
các diễn đàn khoa học trong một không khí “nóng”, và
một sự phân chia ư thức hệ rất rơ ràng: một
bên ủng hộ, một bên chống. Trong một cuộc
hội thảo ở San Francisco vào năm 1998 mà
người viết bài này có tham dự, sau khi một
đồng nghiệp- diễn giả từ Mayo Clinic
thuyết tŕnh về lợi và hại của đậu
nành, một loạt ư kiến cực ḱ ồn ào
được đưa ra mà ngay cả hai vị chủ
tọa cũng không điều khiển được
cuộc thảo luận!
Ngay cả trong cộng đồng
người Việt, một cuộc tranh căi như thế
cũng xảy ra, nhưng h́nh như với tính cách niềm
tin cá nhân, t́nh cảm và cảm tính hơn là khoa học.
Người th́ tin rằng đậu nành là “một
nguồn dinh dưỡng tuyệt hảo”, nhưng cũng
có người cho rằng dùng đậu nành có thể có
hại đến sức khỏe. Nhưng cả hai bên
đều ít hay không dẫn chứng những tài liệu
khoa học, mà chỉ dựa vào một số thông tin
từ internet và ư kiến của một vài vị bác sĩ
trong cộng đồng. Thực ra,
đứng trên phương diện biện chứng,
tất cả các ư kiến cá nhân của các chuyên viên, dù là
chuyên viên hàng đầu trong ngành, có giá trị khoa học
rất thấp. Mặt khác, người ta có thể
t́m trên internet những thông tin để ủng hộ hay
bác bỏ một quan điểm về ảnh hưởng
của đậu nành rất dễ dàng, v́ hiện nay có
hàng trăm, nếu không muốn nói là hàng ngàn, các trang nhà trên
liên mạng viết về đậu nành. Thế nhưng,
không phải thông tin nào trên liên mạng cũng đều có
giá trị và độ tin cậy như nhau, v́ không có ai hay
có cơ chế ǵ để kiểm tra các thông tin này
trước khi chúng được công bố.
Thực ra, đậu nành chỉ là một
trong nhiều loại thực phẩm hàm chứa kích thích
tố nữ estrogen. Gọi là “kích thích
tố nữ” v́ estrogen là một yếu tố hóa học
chi phối đến sự phát triển sinh dục trong
phụ nữ. Một trong những chức năng
chính của estrogen là giúp cho các cơ quan sinh dục tăng
trưởng, và làm phát triển các đặc tính nữ
(như vú chẳng hạn). Trong thời ḱ c̣n
khả năng sinh sản, estrogen là một kích thích tố
quan trọng đóng vai tṛ điều ḥa các hoạt
động sinh học của cơ thể, kể cả
sinh hoạt t́nh dục. Nhưng sau thời ḱ măn kinh
(tuổi măn kinh trung b́nh ở người da trắng là
49-51 tuổi), buồng trứng không c̣n sản xuất
estrogen nữa, và gây ra một loạt thay đổi tâm sinh
lí trong người phụ nữ, và dẫn đến
một số bệnh măn tính như ung thư, tiểu
đường và loăng xương.
Hiện nay, một trong những phương án
điều trị và pḥng ngừa bệnh tật trong các
phụ nữ sau thời măn kinh là thay thế kích thích
tố (hay c̣n gọi là HRT, hormone replacement therapy). Tuy nhiên,
vài năm gần đây, kết quả của một
số nghiên cứu lâm sàng cho thấy HRT có thể làm
tăng nguy cơ bị ung thư vú trong
các phụ nữ có tuổi. Và vấn đề
được đặt ra là phải đi t́m một
phương án chữa trị vừa an
toàn vừa hữu hiệu hơn HRT. Phytoestrogen
được xem là một trong những phương án đó. Vậy phytoestrogen là ǵ?
Tác dụng và tác hại của nó ra sao?
Bài viết này có một mục đích khiêm tốn là
trả lời hai câu hỏi trên, bằng cách điểm qua
một số kết quả nghiên cứu liên quan
đến đậu nành nói riêng [và phytoestrogen nói chung] và sức khỏe con người đă
được công bố trên các tập san y sinh học trên
thế giới. Những thông tin này đều
được giới nghiên cứu y khoa duyệt qua
trước khi công bố, do đó, dù không tuyệt
đối, nhưng là những bằng chứng khoa học
có độ tin cậy cao hơn nhiều so với
những thông tin trên internet [không phải từ những
tập san Y-sinh học, các tổ chức có thẩm
quyền] hay ư kiến cá nhân.
Nói một cách ngắn gọn, phytoestrogen là
những hợp chất estrogen (kích thích tố nữ)
được t́m thấy trong thực vật [1]. Có
ba nhóm phytoestrogen chính: isoflavones, coumestans, và lignans. Tất cả ba nhóm phytoestrogen này có cấu trúc hóa
học rất giống với estrogen và anti-estrogen [2].
Vai tṛ của phytoestrogen trong thực vật chưa
được xác định một cách rơ ràng, nhưng có
bằng chứng cho thấy hợp chất này có chức
năng chống nấm [3] hay nhuộm cây [4]. Có
giả thuyết cho rằng phytoestrogen c̣n là một bộ
phận pḥng thủ của cây trong quá tŕnh tiến hóa.
Năm 1954, người ta phát hiện có 53 loại cây
cỏ có chứa estrogen [5], nhưng sau này con số
được tăng lên hơn 300 cây cỏ [6]. Isoflavones và counestans được ghi nhận là
những hợp chất phổ thông nhất.
Bảng sau đây là ước lượng hàm lượng
của phytoestrogen trong một số thực phẩm thông
thường được tính ra trên đơn vị tách
(một tách đo lường – metric cup có thể tích
chuẩn là 250ml):
Thực phẩm Hàm lượng phytoestrogen
Miso 120mg
Đậu nành, đỗ tương (soybeans) 80mg
Bột đậu nành (soyflour) 100mg
Tempeh 80mg
Đậu khuôn (Tofu) 80mg
Sữa đậu nành (soy milk) 40mg
Đậu hũ (Tofu yoghurt) 16mg/100g
Ḿ đậu nành khô (soy noodles) 8,5mg/100g
Đậu nành xanh (green soybeans) 135mg/100g
Các triệu
chứng sau thời kỳ măn kinh.
Như đề cập trên, đối
với phụ nữ sau thời ḱ măn kinh, cơ thể
không c̣n sản xuất kích thích tố estrogen, và dẫn
đến một loạt thay đổi quan trọng
về tâm sinh lí. Một số trong
những triệu chứng sinh lí là nóng bừng
(thường gọi là “hot flush”), khô âm hộ, viêm âm
đạo. Nhưng cường
độ mà phụ nữ kinh qua những triệu
chứng này có thể tùy thuộc vào yếu tố văn
hóa. Chẳng hạn như phụ nữ
Nhật Bản ít bị những triệu chứng nóng
bừng so với phụ nữ
Trong một nghiên cứu trên 58 phụ nữ sau thời ḱ
măn kinh, với tối thiểu là 14 cơn nóng bừng hàng
tuần; qua 12 tuần theo dơi, tỉ lệ nóng bừng trong
các phụ nữ được điều trị
bằng bột đậu nành (phytoestrogen) (45 gram) giảm
40% so với phụ nữ không được điều
trị là 25%. Tuy nhiên, mức độ khác
biệt này không được xem là có ư nghĩa thống kê
(tức có thể là do các yếu tố ngẫu nhiên,
chứ không phải tác dụng của phytoestrogen) [8].
Loăng xương
Đối với các phụ nữ sau thời ḱ măn kinh,
t́nh trạng suy giảm estrogen dẫn đến t́nh
trạng mất chất xương. Tính trung
b́nh tỉ lệ bị mất chất xương
khoảng 1% mỗi năm. Nhưng trong
thời ḱ tiền măn kinh, tỉ lệ này có thể cao
đến 5 hay 10% mỗi năm. Giảm chất
xương có thể dẫn đến dễ găy
xương hơn b́nh thường nếu bị té hay tai nạn. Do đó, một trong những
mục tiêu quan trọng của việc chữa trị
bệnh loăng xương là duy tŕ chất xương sao cho
không giảm trong thời ḱ sau măn kinh. HRT là
một loại thuốc có khả năng làm giảm tỉ
lệ mất chất xương và pḥng chống găy
xương trong phụ nữ sau thời ḱ măn kinh. Tuy
nhiên, v́ dùng HRT lâu năm có thể làm tăng nguy cơ
bị ung thư vú (và có thể cả
bệnh tim mạch). Từ đó, một trong những
hướng nghiên cứu mới là t́m một phương
cách điều trị khác an toàn hơn, vừa giảm nguy
cơ găy xương lại vừa không làm tăng nguy
cơ ung thư vú hay các phản ứng
phụ.
Phytoestrogen có thể ngăn ngừa t́nh
trạng mất chất xương trong các phụ nữ
sau thời ḱ măn kinh. Nhiều dữ kiện trong ṿng 3
thập niên qua cho thấy những phụ nữ
được điều trị bằng Iproflavone,
một dạng isoflavones, có mức độ mất
chất xương thấp hơn các phụ nữ không
được điều trị bằng Iproflavone.
Nhưng kết quả này vẫn c̣n nằm trong ṿng tranh
căi, v́ có nhà nghiên cứu cho rằng tác dụng của
phytoestrogen không cao như nhiều người “cảm t́nh
viên” tưởng, nhưng họ cũng công nhận là
phytoestrogen rất ít khi nào gây ra phản ứng phụ.
Mặt khác v́ chưa có nghiên cứu lâm sàng nào
được tiến hành theo đúng
các tiêu chuẩn khoa học của thử nghiệm lâm sàng
đối chứng ngẫu nhiên, nên vấn đề
vẫn chưa mấy rơ ràng.
Mới đây, một nhóm bác sĩ và khoa học gia bên Ư
đă tiến hành một thử nghiệm lâm sàng
đối chứng ngẫu nhiên, với 90 phụ nữ
tuổi từ 47 – 57, b́nh thường (không bị chứng
loăng xương). Những phụ nữ này được
chia làm 3 nhóm: 30 người không được điều
trị ǵ cả (gọi là placebo, hay nhóm “đối
chứng”); 30 người được điều
trị bằng HRT 1 mg/ngày; và 30 người được
điều trị bằng phytoestrogen genistein 54 mg/ngày. Sau 12
tháng điều trị, các nhà nghiên cứu ghi nhận vài
kết quả chính như sau [9]:
Mật độ xương đùi trong nhóm
được điều trị bằng phytoestrogen
genistein tăng [trung b́nh] 3.6%; trong khi đó, nhóm
được điều trị bằng HRT, tỉ
lệ tăng là 2.4%; và như có thể đoán trước
được, mật độ xương đùi trong
nhóm đối chứng giảm khoảng 0.7%.
Chỉ số sinh hóa tạo xương (bone formation marker),
nhóm được điều trị bằng phytoestrogen
genistein tăng 23% đến 29%, trong khi chỉ số này
trong nhóm được điều trị bằng HRT và
nhóm đối chứng lại giảm.
Về phản ứng phụ: có ba phản ứng phụ
như sau: chảy máu âm hộ, đau vú (breast tenderness), và
nóng bừng (hot flushes). Chảy máu âm hộ được
ghi nhận 3 người trong nhóm được
điều trị bằng HRT, 1 người trong nhóm
phytoestrogen genistein, và 1 người trong nhóm đối
chứng. Chứng nóng bừng được
ghi nhận trong 12 người thuộc nhóm đối
chứng, cao nhất so với nhóm HRT (chỉ 1
người) và nhóm phytoestrogen genistein (3 người). Tuy nhiên, chứng đau vú được ghi
nhận cao nhất trong nhóm HRT (6 người) so với nhóm
phytoestrogen genistein (3) hay đối chứng (1).
Các nhà nghiên cứu kết luận rằng phytoestrogen có tác
dụng tích cực đến xương trong các phụ
nữ sau thời ḱ măn kinh, qua khả năng làm giảm
hoạt động của các tế bào hủy xương
và tăng hoạt động của các tế bào tạo
xương.
Đứng trên khía cạnh phương pháp và ư nghĩa lâm
sàng, đây là một nghiên cứu quan trọng về
ảnh hưởng của phytoestrogen trong việc
điều trị chứng loăng xương. Đây là
lần đầu tiên một nghiên cứu về phytoestrogen
trong ngành xương được tiến hành theo các tiêu chuẩn khoa học của nghiên
cứu lâm sàng. Nghiên cứu này cung cấp thêm
bằng chứng cho thấy phytoestrogen có thể làm cho
xương phụ nữ trong và sau thời măn kinh mạnh
hơn, và làm giảm nguy cơ găy xương. Nếu
kết quả của nghiên cứu này được xác
nhận bằng vài nghiên cứu độc lập khác, có
thể nói trong tương lai ngành xương sẽ có
một phương án mới
điều trị chứng loăng xương an toàn hơn và
rẻ tiền hơn với các loại thuốc hiện
hành.
Ung thư
Đă từ lâu các nhà nghiên cứu ghi nhận rằng
mức độ khác nhau về tỉ lệ ung thư
giữa các sắc dân trên thế giới là một bằng
chứng cho thấy bệnh này chịu ảnh hưởng
của các yếu tố liên quan đến môi trường
hơn là các yếu tố di truyền. Tỉ lệ dân
bị ung thư cao nhất thường tập trung trong
các dân số có mức tiêu thụ chất béo cao, chất
đạm động vật, và ít tiêu thụ chất
sợi (fibre); trong khi đó tỉ lệ ung thư
thường thấp ở các nước mà mức
độ tiêu thụ thịt ít nhưng có mức
độ tiêu thụ thực vật và rau cỏ cao,
nhất là các cây cỏ có chứa phytoestrogen [10-11].
Trong thời gian gần đây, có khá nhiều nghiên cứu
về mối liên hệ giữa ung thư
và thực phẩm đậu nành. Ở Nhật, những
người đàn ông ăn đậu khuôn (5 lần
một tuần) có tỉ lệ bị ung thư tuyến
tiền liệt (prostate cancer) thấp hơn khoảng 50% so
với đàn ông ăn đậu khuôn 1 lần hay ít hơn
trong một tuần [12]. Trong một nghiên cứu trên 265,000
người Nhật trong ṿng 12 năm cho thấy những
người ăn miso (một loại đậu khuôn) hàng
ngày có nguy cơ bị ung thư dạ dày thấp hơn
những người không dùng đậu nành [13-14]. Hai nghiên
cứu khác ở Trung Quốc cho thấy phụ nữ dùng
thực phẩm đậu nành ít (dưới 1 lần /
tuần) có tỉ lệ bị ung thư
phổi và ung thư vú cao gấp 2 đến 3.5 lần so
với các phụ nữ dùng hàng ngày [15-16].
Trong một nghiên cứu mà đối tượng là
những người Mĩ gốc Trung Quốc, Nhật
Bản, và Phi Luật Tân, các nhà nghiên cứu ghi nhận
một mối liên hệ nghịch chiều giữa mức
độ tiêu thụ đậu khuôn và nguy cơ bệnh
ung thư vú: phụ nữ dùng đậu khuôn nhiều có
nguy cơ bị ung thứ vú thấp hơn phụ nữ
không dùng hay dùng ít đậu khuôn [17]. Một
phát hiện tương tự cũng được ghi
nhận trong một nghiên cứu ở
Kích thích tố nội sinh (endogenous hormones) và kích thích tố
ngoại sinh (exogenous hormones) đều có quan hệ với
nhiều loại ung thư. Trong đàn
ông, những người có độ kích thích tố nam (androgens)
cao thường có nguy cơ bị ung thư
tuyến tiền liệt hơn những người có
độ kích thích tố nam thấp. Trong phụ nữ,
nguy cơ bị ung thư vú và noăn sào
thường tăng theo mức độ kích thích tố
nữ (hay estrogen). Tương tự những sắc dân có
độ kích thích tố thấp cũng là những
người có nguy cơ bị ung thư
thấp [20]. Do đó, một giả thuyết
được đặt ra là nếu có một hóa chất
hay thực phẩm làm giảm độ kích thích tố nam
và nữ th́ nó cũng có thể làm giảm nguy cơ bị
ung thư. Mặc dù mối tương
quan giữa kích thích tố nội sinh và ung thư
tỷ lệ thuận (tức là mức độ kích thích
cao th́ nguy cơ ung thư cao), nhưng mối tương
quan giữa phytoestrogen và ung thư lại tỷ lệ
nghịch (tức là mức độ phytoestrogen càng cao th́
nguy cơ ung thư càng giảm).
Không ai biết tại sao lại có một “nghịch lí”
như vừa nói, nhưng nhiều thí nghiệm trong
chuột cho thấy phytoestrogen có khả năng làm giảm
sự tăng trưởng của tế bào ung thư. Trong
những nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu điều
trị hai nhóm chuột (một nhóm bằng phytoestrogen, và
một nhóm đối chứng tức không có thuốc nào),
và cả hai nhóm đều được cho sống trong
một môi trường gây bệnh ung thư.
Kết quả nghiên cứu cho thấy nhóm được
điều trị bằng phytoestrogen có tốc độ
phát sinh ung thư chậm hơn một
cách đáng kể so với nhóm đối chứng, và
điều này chứng tỏ rằng phytoestrogen có thể
có tác dụng tích cực trong việc ngăn cản
những bệnh ung thư tùy thuộc vào kích thích tố
[21-22].
Mối liên hệ giữa phytoestrogen và ung thư
vú, và giữa chu ḱ kinh nguyệt và ung thư vú là hai vấn
đề thu hút một số nghiên cứu trong thời gian
gần đây. Ở phụ nữ người da trắng,
chu ḱ kinh nguyệt trong những
người bị ung thư vú ngắn hơn khoảng 2
đến 3 ngày so với chu ḱ trong những người
không bị ung thư vú [23]. Chu ḱ kinh nguyệt ở phụ
nữ da trắng tính trung b́nh ngắn hơn chu ḱ ở
phụ nữ Á châu khoảng 2 đến 3 ngày, và sự
khác biệt này được đề nghị là có liên
hệ đến mức độ tiêu thụ đậu
nành trong người Á châu cao hơn trong người Tây
phương nói chung [24-25]
Trong một nghiên cứu nhỏ trên cho 6 phụ nữ dùng
sữa đậu nành trong ṿng 1 tháng, các nhà nghiên cứu ghi
nhận chu ḱ kinh nguyệt tăng lên khoảng 3 ngày. Nhưng v́ nghiên cứu này quá nhỏ và không có
một nhóm đối chứng nên chưa thể xem là
một bằng chứng đáng tin cậy [26]. Trong
một nghiên cứu khác lớn hơn [27], các nhà nghiên
cứu không ghi nhận ảnh hưởng nào của
sữa đậu nành đến chu ḱ
kinh nguyệt. Do đó, dựa theo các
dữ kiện đang có, chúng ta chưa thể kết
luận được là phytoestrogen có khả năng kéo dài
chu ḱ kinh nguyệt, và chu ḱ kinh nguyệt tương
đối dài trong phụ nữ Á châu chắc không phải
do ảnh hưởng của phytoestrogen [28].
Bệnh tim mạch
Bằng chứng y học thu thập trong khoảng 30
năm qua cho thấy phytoestrogen có ảnh hưởng tích
cực chống lại các bệnh tim mạch. Đă từ
lâu, giới nghiên cứu ghi nhận tỉ lệ
người Á châu, những người có mức
độ tiêu thụ rau cải nhiều, bị bệnh tim mạch ít hơn người da trắng
Tây phương [29-30].
Trong phụ nữ người da trắng, estrogen là một
kích thích tố được xem là có tác dụng pḥng
chống nguy cơ bị bệnh tim
mạch. Phụ nữ sau thời ḱ măn kinh dùng estrogen (hay
HRT) có nguy cơ bị bệnh tim
mạch thấp hơn phụ nữ không dùng estrogen [31-33].
Mối quan hệ giữa phytoestrogen và bệnh tim mạch chưa được nghiên
cứu qui mô như trong trường hợp HRT.
Tuy nhiên kết quả từ nhiều nghiên cứu mối
quan hệ giữa phytoestrogen và bệnh tim
mạch không hoàn toàn nhất quán, và thường mâu
thuẫn nhau. Chẳng hạn như một
nghiên cứu báo cáo rằng chỉ số cholesterol trong các
phụ nữ dùng isoflavones với 45 mg/ngày giảm một
cách đáng kể so với phụ nữ không
được điều trị bằng isoflavones [34].
Nhưng một nghiên cứu khác [35] trong đàn ông
được điều trị bằng protein
đậu nành với 60 g/ngày trong ṿng 4 tuần, th́ không ghi
nhận được một ảnh hưởng tích
cực nào của phytoestrogen. Tuy nhiên các nhà nghiên
cứu cũng nói thêm rằng các đối tượng
trong nghiên cứu của họ có độ cholestrol
thấp, tức là cơ hội giảm cholesterol không có bao
nhiêu.
Khá nhiều nghiên cứu cho thấy thay thế thức ăn động vật bằng chất
đạm chế biến từ đậu nành làm giảm
LDL cholesterol [36-37]. Một phân tích tổng hợp 38 nghiên
cứu lâm sàng gần đây kết luận rằng
đậu nành hay chất đạm chế biến từ
đậu nành có khả năng giảm LDL và triglyceride
[38].
Khả năng
tác hại của phytoestrogen
Khả năng sinh sản.
Vào thập niên 1940s, ở Tây Úc người ta
thấy một số trừu có vấn đề về
khả năng sinh sản, kể cả các chứng u nang
trong noăn sào, và thiếu khả năng thụ tinh [39].
Sau này triệu chứng trên có tên là “Clover disease”, và sau khi
nghiên cứu, các nhà khoa học biết rằng chứng này
do trừu ăn một loại cỏ có tên là Trifolium
subterraneum (hay thường gọi là “clover”, hay cỏ ba lá,
cỏ clô-vơ) có chứa nhiều hàm lượng
isoflavones [40]. Tác hại (hay “ảnh
hưởng” th́ đúng hơn) của cỏ clô-vơ trong
vấn đề sinh sản sau này c̣n được ghi
nhận trong thỏ, lợn (heo), và chuột.
Câu hỏi cần được đặt ra là một
ảnh hưởng tiêu cực của isoflavones như trên
có thể có trong con người hay không? Qua các
nghiên cứu được công bố trong vài mươi
năm qua th́ có lẽ câu trả lời là “không”. Thực ra, chưa có một nghiên cứu nào cho thấy
isoflavone có ảnh hưởng tiêu cực đến sinh
sản trong phụ nữa trước thời ḱ măn kinh
cả. Tuy nhiên, có một nghiên cứu ở Ḥa Lan báo
cáo rằng các phụ nữ dùng củ tulip (có chứa
nhiều phytoestrogen) ở một liều lượng
lớn có thể gây ra chứng chảy máu âm hộ và vài
rối loạn chu ḱ kinh nguyệt [41], nhưng v́ nghiên
cứu này quá sơ sài, nên không ai có thể kết luận
được là các triệu chứng này trực tiếp
liên quan đến phytoestrogen hay một yếu tố trung
gian nào khác. Trong phụ nữ Á châu, những
người dùng đậu nành trong một thời gian
rất dài (qua nhiều thế hệ) và với liều
lượng trung b́nh, th́ khả năng sinh sản của
họ không có ǵ để gọi là có vấn đề.
Phát triển cho đến nay, tất cả
các nghiên cứu về phytoestrogen và phát triển chỉ
giới hạn trong các động vật cấp thấp
như chuột, nhưng kết quả cũng không có ǵ mang
tính khẳng định. Dù thế, có người
đặt giả thuyết rằng (c̣n gọi là
Sharpe-Skakebaek hypothesis) nếu trẻ sơ sinh
được tiếp thu estrogen sớm
có thể dẫn đến một vài biến chứng
trong thời gian trưởng thành, như chất
lượng tinh trùng thấp, hay nguy cơ bị ung thư
tuyến tiền liệt [42]. Nhưng trong
thực tế cho đến nay, những tác hại trên
chưa được ghi nhận trong bất cứ
một nghiên cứu nào. Thực ra, có
bằng chứng cho thấy ngược lại rằng
nếu trẻ sơ sinh dùng phytoestrogen th́ trong thời gian
trưởng thành họ thường ít bị các chứng
bệnh măn tính. Ở Mĩ, sữa
đậu nành đă được dùng cho trẻ sơ
sinh hơn 50 năm và chưa có bằng chứng ǵ cho
thấy nó có tác hại [43].
Một vài
nhận xét
Nói chung mặc dù trong
thời gian qua đă có khá nhiều nghiên cứu về
mối quan hệ giữa phytoestrogen và sức khỏe con
người, nhưng kiến thức của chúng ta về
mối quan hệ này vẫn c̣n rất rời rạc.
Một phần lớn là v́ gần như 95% các nghiên
cứu chưa được tiến hành theo
những tiêu chuẩn khoa học và nguyên tắc lâm sàng cao.
Chẳng hạn như trong khoảng 100 nghiên cứu liên
quan đến phytoestrogen và loăng xương, ung thư và
bệnh tim mạch, chỉ có 5 nghiên cứu được
liệt vào loại “thử nghiệm lâm sàng đối
chứng ngẫu nhiên” (tức là “Randomized controlled clinical
trial”), một loại nghiên cứu mà giá trị của
kết quả được đánh giá là có độ tin
cậy cao nhất trong tất cả các loại nghiên
cứu lâm sàng.
Tuy nhiên, điểm qua kết quả của các nghiên
cứu trên chuột và con người trong thời gian qua,
chúng ta có thể nói rằng tác dụng của phytoestrogen
đến sức khỏe con người nói chung là tích
cực và an toàn nếu dùng với
một liều lượng vừa phải và trong một
thời gian trung b́nh. Những bằng chứng này cho
thấy phytoestrogen có thể ảnh hưởng đến
nhiều cơ phận, kể cả làm giảm cholesterol,
ngăn chận sự phát triển của các tế bào ung thư, giảm t́nh trạng mất chất
xương trong người, và có thể xoa dịu
những triệu chứng sau thời ḱ măn kinh như nóng
bừng. Nhưng phytoestrogen cũng có một vài biến
chứng phụ nếu dùng với một liều
lượng cao, dù những biến chứng này nói chung là không nghiêm trọng.
Thế nào là một liều lượng trung
b́nh? Cho đến nay chưa có nghiên
cứu nào trả lời dứt khoát câu hỏi này.
Nhưng các dữ kiện khoa học công bố trong
thời gian gần đây cho thấy có lẽ dùng khoảng
30-40 mg / ngày (tức khoảng 1 ly sữa đậu nành
mỗi ngày) là một liều lượng an
toàn. Về thời gian dùng “an toàn”,
cũng chưa có câu trả lời rơ ràng, v́ hầu hết
các nghiên cứu về tác dụng của phytoestrogen
thường rất ngắn hạn, và chúng ta vẫn
chưa biết được những biến chứng lâu
dài. Tuy nhiên, cho đến nay, trong các sắc dân Á châu dùng
phytoestrogen (đậu nành) từ thế hệ này sang
thế hệ khác, chưa thấy có biến chứng nguy
hiểm nào được báo cáo.
Tăng cường tiêu thụ các sản phẩm như
đậu khuôn, hay rau cải cũng nằm trong một chiến
lược y tế công cộng của chính phủ
nhiều nước Tây phương nhằm giảm tỉ
lệ dân số bị bệnh tim
mạch, ung thư và loăng xương. Đối với
người Việt Nam, các sản phẩm của
đậu nành, như đậu khuôn, sữa đậu
nành, đậu hủ là những món ăn quen thuộc, và
không có lí do ǵ chúng ta phải từ bỏ nguồn thực
phẩm lành mạnh và quan trọng này.
Tài liệu tham khảo và chú thích:
[1] Chữ “Phytoestrogen” là ghép
từ tiếp đầu ngữ “phyto” có nghĩa là
thực vật (cây cỏ), và estrogen.
[2] Tất cả ba nhóm phytoestrogen này có cấu trúc hóa
học rất giống với estrogen và kháng- estrogen
(anti-estrogen). Có bằng chứng nghiên cứu
cho thấy khi phytoestrogen được dùng trong những
trường hợp estrogen nội sinh với độ cao
th́ phytoestrogen đóng vai tṛ khống chế hoạt
động của estrogen.
Các tài liệu tham khảo sau đây được liệt
kê theo thứ tự: tên tác giả,
tựa đề bài báo, tên tập san (viết tắt theo
qui luật quốc tế), năm xuất bản, bộ
số, và trang.
[3] Naim H, et al. Soy bean isoflavones, characterisation, determination and
antifugal activity. J Agric Food Chem 1974;22:806-810.
[4] Clevenger S. Flower pigments. Sci Am 1964; 210:84-92.
[5] Bradbury RB, White DE. Oestrogens and related substances
in plants. Vitam Horm 1954; 12:207-33.
[6] Farnsworth NR, et al. Potential value of plants as sources of new
antifertility agents. J Pharmacol Sci 1975; 64:717-54.
[7] Colditz GA, et al. Type of postmenopausal hormone use and risk of breast
cancer: 12-year follow-up from the Nurses’ Health Study. Cancer
Causes Control 1992; 3:433-39.
[8] Murkies AL, et al. Dietary flour supplementation decreases postmenopausal
hot flushes: effects of soy and wheat. Maturitas 1995;
21:189-95.
[9] Morabito N, et al. Effects of genistein and hormone replacement therapy on
bone loss in early postmenopausal women: a randomized double-blind
placebo-controlled study. J Bone Miner Res 2002; 17:1904-12.
[10] Parkin DM. Cancers of the breast, endometrium, and ovary: geographic
correlations. Eur J Clin Oncolo 1989; 25:1917-25.
[11] Ross PD, et al. International comparisons of mortality rates for cancer of
the breast, ovary, prostate and colon, and per capita food consumption. Cancer 1986; 58:2363-71.
[12] Severson RK, et al. A prospective study of demographics,
diet, and prostate cancer among men of Japanese ancestry in
[13] Haenszel W, et al. Stomach cancer among Japanese in
[14] Nagai M, et al. Relationship of diet to the incidence of esophageal and
stomach cancer in
[15] Koo LC, et al. Dietary habits and lung cancer risk among Chinese females
in
[16] Lee HP, et al. Dietary effects on breast cancer risk in
[17] Wu AH, et al. Tofu and risk of breast cancer. Cancer
Epidemiol Biomarkers Prev 1996; 5:901-6.
[18] Lee HP, et al. Dietary effect on breast cancer risk in
[19] Goodman MT, et al. Association of soy and fiber consumption with the risk
of endometrial cancer. Am J Epidemiol 1997; 146:294-306.
[20] Trichopoulos D, et al. The effects of Westernization on urine estrogens,
frequency ov ovulation and breast cancer risk. Cancer 1984;
53:187-192.
[21] Lamartiniere CA, et al. Genistein suppresses mammary cancer in rats. Carcinogenesis 1995; 53:187-192.
[22] Lamartiniere CA, et al. Neonatal genistein chemoprevents mammary cancer.
Proc Soc Exp Biol Med 1995; 208:120-3.
[23] Olsson H, et al. Retrospective assessment of menstrual cycle length in
patients with breast cancer, in patients with benign breast cancer and in women
without breast cancer. J Natl Cancer Inst 1983; 70:17-20.
[24] Treolar AE, et al. Variation of the human menstrual cycle through
reproductive life. Int J Fertil 1970; 12:77-126.
[25] Key TJA, et al. Sex hormones in rural
[26] Lu LH, et al. Effects of soya consumption for one month on steroid
hormones in premenopausal women: implications for breast cancer risk reduction.
Cancer Epidemiol Biomarkers Prev 1996; 5:63-70.
[27] Baird DD, et al. Dietary intervention study to assess estrogenicity of
dietary soy among postmenopausal women. J Clin Endocrinol
Metab 1995; 80:1685-90.
[28] Lock M. Contested meanings of the menopause. Lancet
1991; 337:1270-72.
[29] Artaud-Wild SM, et al. Differences in coronary mortality can be explained
by differences in cholesterol and saturated fat intakes in 40 countries but not
in
[30] Keys A, et al. The seven countries study: 2289 deaths in 15 years. Prev
Med 1964; 13:141-154.
[31] Chae CU, et al. Postmenopausal hormones replacement therapy and
cardiovascular disease. Thromb Haemost 1997; 78:770-80.
[32] Stampler MJ, et al. Postmenopausal estrogen therapy and cardiovascular
disease: ten-year follow-up from the Nurses’ Health Study. N Engl J Med 1991;
325:756-62.
[33] Gilligan DM, et al. Effects of estrogen replacement therapy on peripheral
vasomotor function in postmenopausal women. Am J Cardiol 1995; 75:264-268.
[34] Cassidy A, et al. Biological effects of isoflavones in young women:
importanceof the chemical composition of soy bean products. Br
J Nutr 1995; 74:587-601.
[35] Gooderham MJ, et al. A soy protein isolate rich in genistein and daidzein
and its effects on plasma isoflavone concentrations, platelet aggregation,
blood lipids and bone density in postmenopausal women. J Nutr
1996; 126:2000-6.
[36] Carroll KK. Review of clinical studies on cholesterol-lowering response to
soy protein. J Am Diet Assoc 1991; 91:820-27.
[37] Sirtori CR, et al. Soybean protein diet and plasma cholesterol: from
therapy to molecular mechanisms. Ann NY Acad Sci 1993;
676:188-201.
[38] JW Anderson và đồng nghiệp.
[39 Bennetts HW, et al. S specific breeding problem of sheep on subterranean
clover pastures in
[40] Bradbury RB, White DE. Estrogen and related substances
in plants. Vitamins Hormones 1954; 12:207-233.
[41] Labov JB. Phytoestrogens and mammalian reproduction.
Comp Biochem Physiol 1977; 57:3-9.
[42] Sharpe RM,
[43] Huggett AC, et al. Phytoestrogens in soy-based infant formula. Lancet 1998; 350:815-6.
**********************
ĂN ĐẬU NÀNH CÓ ĐỘC
KHÔNG?
BS. PHẠM NẮNG
CƯỜNG
LTS: Đă từ lâu, các chế
phẩm của đậu nành như đậu phụ,
sữa... trở thành thực phẩm quen thuộc với
chúng ta. Các chế phẩm này ngon, hợp khẩu vị,
nhất là nó được xem như loại thực
phẩm lành tính chỉ có lợi cho sức khỏe, hoàn toàn
vô hại. Thế nhưng, bài viết dưới đây của
BS. Phạm Năng Cường (dựa theo
một tài liệu khoa học của nước ngoài)
lại cho rằng dùng đậu nành có hại như: có
thể làm nam giới vô sinh, dễ gây ung thư... Ṭa soạn xin giới thiệu bài viết này
để bạn đọc tham khảo và mong các chuyên gia
về dinh dưỡng có ư kiến.
Tôi mới nhận được tài liệu về dinh
dưỡng trị liệu do BS Nguyễn Xuân Thuyên -
người Mỹ gốc Việt gửi tặng, trong
đó có nêu rơ cái lợi và cái hại của đậu nành
như sau:
1. Về mặt lợi
BS đă nêu rằng: Trên thế giới người ta
đă thống kê được trên 1.000 loại
đậu nành gồm đủ cỡ (to nhỏ) và
sắc màu (đỏ, vàng, xanh, nâu và cả đen). Lại
có ghi: Đậu nành ít chất bột, nhiều đạm
và dầu, giá rất rẻ được dùng làm thực
phẩm chế biến đủ loại như
đậu phụ, dầu đậu nành, tương
sữa đậu nành, bột đậu nành, sốt
đậu nành và miso... Đậu nành c̣n được
chế biến thành bơ margarines,
kể cả xà bông và plastic. Nước
Mỹ hiện dẫn đầu thế giới về
xuất cảng và sản xuất, chế biến
đậu nành. Trước đây các nhà khảo
cứu đă chỉ ra lợi ích của đậu nành
như làm giảm cholesterol trong máu do có 4 chất là: chất
xơ, chất saponins, chất phytosterols và cả chất
lecithin cùng lượng nhỏ vitamine E, đậu nành c̣n là
chất chống ung thư nhờ các chất như: protease
inhibitors, trypsin inhibitor, isoflavones, polyphenols, phytate, và
methionine.
2. Về mặt độc
hại
Nhưng đậu nành cũng độc hại không kém,
nhất là đậu phụ và tàu hũ (óc đậu)
hoặc các sản phẩm làm đông đặc theo
phương pháp Tây Âu ví dụ: enzyme inhibitors làm ngăn
cản hoạt động của trypsin và các enzymes khác
cần cho hấp thu chất protein, làm thiếu hụt
chất đạm nghiêm trọng có thể gây viêm tụy
(trên súc vật) và ung thư(?) Nó c̣n có hóa
chất hemaglutinin làm cho hồng cầu bị vón và giảm
hấp thu dưỡng khí. Đậu
nành c̣n có lượng phytic acids cao, thường có ở
vỏ hạt làm cản trở sự hấp thu các chất khoáng rất quan trọng
như: calcium, mangesium, sắt, kẽm qua ruột
(thường thấy ở những người ăn chay
trường). Trong khi chế biến, các nhà
sản xuất thường ngâm đậu nành trong dung
dịch kiềm (alkaline) sau đó đun ở 115oC trong
nồi áp suất. Cách này làm chất đạm khó tiêu
hóa được và chất phytate trong sữa đậu
nành ngăn cản các chất khoáng vào máu, nguy hiểm
hơn là chất kiềm dùng để ngâm c̣n có mầm ung
thư lysinealine, giảm chất cystine trong đậu nành
đưa đến vô dụng các chất đạm
nếu không ăn thêm các chất thịt, cá, trứng và
sản phẩm làm từ sữa động vật. Sữa đậu nành cho trẻ em cùng với
chất trypsin inhibitors có chứa lượng cao nhất
phytate khiến cho trẻ bị thiếu kẽm. C̣n chất nhôm lại cao hơn gấp 10 lần
so với sữa thường và 100 lần so với
sữa chưa chế biến. T́nh trạng dị
ứng do ăn đậu nành rất
thường gặp, vả lại trong sữa đậu
nành cho trẻ em c̣n thiếu chất cholesterol là chất
thiết yếu cho sự phát triển năo bộ và hệ
thống thần kinh. Điều làm tôi
sửng sốt trong phần kết thúc, mục Bạn có
biết? tác giả ghi nguyên văn:
- Đậu nành có thể làm chho nam giới vô sinh (ít tinh
trùng) v́ nó có chứa estrogen. Chúng tôi đề nghị các ông
phải ngưng ăn đậu nành trước 3 tháng
nếu muốn có con(?)
- Phải chăng việc ch𓐗 biến đậu nành
c̣n quan trọng hơn cả thành phần cấu tạo
của nó(?)
- Phải chăng đậu nàành chỉ tốt với
người cao tuổi c̣n tuổi trẻ th́ không(?)
Chắc
sẽ có quư vị hỏi: Liệu tác giả đó muốn
ǵ? Và tài liệu kia ra sao? Xin
thưa, tác giả đó chỉ hoan nghênh cách chế
biến cổ truyền có lên men như ông cha ta đă làm, ví
dụ làm tương chẳng hạn, c̣n các phương
pháp sản xuất công nghiệp, nhất là không cho lên men
th́ đả phá. Tác giả cũng cho rằng không
khuyến khích với trẻ em và người ăn chay v́ đều thiếu một
số chất dinh dưỡng cần thiết. Đây là tài liệu chính thống được
phổ cập tại Mỹ cho 2 cộng đồng
người Việt và người Mỹ được
Nhà nước công nhận và cho phép. Theo
ư tôi, có lẽ lâu nay ta ít lưu tâm tới các cách chế
biến (tốt hoặc xấu) mà người giải
đáp phải là các nhà khoa học, trong đó có Viện dinh
dưỡng - Bộ Y tế VN chúng ta. Mong
sớm có được hướng dẫn về chuyên
mục này, v́ sản phẩm chế từ đậu nành
ở ta đang phát triển mạnh và những quảng cáo
giật gân về nó cũng không thiếu trên các
phương tiện truyền thông đại chúng. Xác định cách nào là đúng và có lợi cho
đối tượng nào, hoặc ngược lại, âu
cũng là góp phần nâng cao dân trí và cải thiện
thực tế sức khỏe của nhân dân ta, v́
đậu nành ở ta không hiếm, lại rẻ và dễ
phổ cập.
Khử
độc tố trong sữa đậu nành
Có người nói các loại
đậu nành đều bổ v́ có nhiều đạm và
các chất dinh dưỡng khác, song bản thân nó cũng có
một số độc tố. Nếu
không xử lư hết th́ sẽ có tác hại nếu dùng
nhiều và liên tục. Độc tố
phải xử lư ở nhiệt độ 130 độ C
mới hết. Điều đó có
đúng không?
Trả
lời: Sữa
đậu nành được làm theo
kiểu truyền thống là thức ăn có giá trị cao
và an toàn. Từ lâu đậu nành đă
trở nên quan thuộc với mọi người. Hạt đậu sống có chứa độc
tố. Nếu ăn nhiều
hạt đậu nành chưa nấu chín th́ có thể
bị bướu cổ, tổn thương gan, cơ
thể chậm phát triển. Trong hạt
đậu nành sống có một loại enzym chống
lại sự hoạt động của trypsin (men có tác
dụng tiêu hóa protein) và soyin (anbumin có tính độc trong
đậu nành). Hai tác nhân này ḱm hăm
sự phát triển của cơ thể. Tuy nhiên, nếu hạt đậu nành
được xử lư bằng nhiệt th́ các độc
tố đó sẽ bị phá hủy. Đặc biệt,
nếu trong môi trường băo ḥa nước (luộc,
ninh, nấu...) th́ vừa tránh được những tác
hại nói trên, vừa làm tăng thêm hiệu quả sử
dụng.
Ngoài ra, trong vỏ hạt đậu c̣n
chứa những chất đường mà cơ thể
con người không tiêu hóa được. Nếu ăn nhiều hạt đậu nành
để cả vỏ sẽ dễ bị đầy
hơi v́ khi đậu vào đến đại tràng, các vi
khuẩn ruột sẽ ăn các chất đường
này và sản sinh ra sản phẩm phụ là khí.
Sữa đậu nành là thức ăn
tuyệt vời v́ cách chế biến thông thường
đă loại bỏ hết vỏ và xơ bă. Hơn
nữa, đậu được đun sôi nên đă
loại trừ được độc tố vừa
tiệt trùng. Đây là loại thực phẩm rất an toàn, giàu chất đạm, dễ hấp
thụ, dễ tiêu hóa. Bạn cứ yên tâm
sử dụng b́nh thường.
BS Vũ Hướng Văn